gototopgototop

Institute for Social Development Studies

 
 
You are here:: Các dự án tiêu biểu Chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu tính dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam
 
 

Chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu tính dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam

In

Sample Image  

 

Đặt vấn đề

Do nhiều yếu tố văn hóa xã hội khác nhau, cho đến mãi gần đây, các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ở Việt Nam vẫn chưa được coi là các chủ đề nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội. Chỉ đến khi có chính sách mở cửa dẫn đến quá trình hội nhập kinh tế, sự phát triển của khoa học xã hội, đặc biệt là những thách thức của đại dịch HIV/AIDS thì sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục mới không còn bị coi là hoàn toàn chỉ thuộc lĩnh vực đạo đức và trở thành một chủ đề quan trọng không chỉ cho nghiên cứu mà cho cả các chương trình can thiệp. Đứng trước mối quan tâm lo lắng của xã hội về các vấn đề như nạo phá thai của vị thành niên, ly dị, tệ nạn mại dâm và lây nhiễm HIV/AIDS, các nhà chính sách, các nhà lãnh đạo chương trình và các nhà nghiên cứu giờ đây đã bắt đầu cảm thấy nhu cầu cấp bách phải có thông tin nhiều hơn để có hành động kịp thời và hiệu quả hơn nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho người dân Việt Nam.

Vào năm 2000, với sự tài trợ của Quỹ Ford tại Việt Nam, một nhóm bao gồm các nhà nghiên cứu đứng đầu là tiến sĩ Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng đã thực hiện một tổng quan các nghiên cứu về tình dục (TD) và sức khỏe tình dục (SKTD) tại Việt Nam nhằm phát hiện các khoảng trống trong nghiên cứu và xác định các hướng nghiên cứu mới. Tháng 6 năm 2001, một hội thảo quốc gia đã được tổ chức tại Hà Nội nhằm thu hút thêm ý kiến của các thành viên đại diện cho nhiều cơ quan và tổ chức nghiên cứu cũng như các cơ quan ra chính sách của chính phủ và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.  Hội thảo đã nhất trí rằng các vấn đề sau đây đang tồn tại và cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt: (1) Có sự thiếu hụt nghiêm trọng thông tin về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cũng như về các chủ đề liên quan. Hiện nay, các tài liệu về các chủ đề nói trên không chỉ rất sơ sài mà còn tản mát trong các cơ quan khác nhau.  Điều đó gây nhiều khó khăn cho những người muốn sử dụng các tài liệu đó cho nghiên cứu của mình.  Tình trạng này cũng dẫn đến những nghiên cứu trùng lặp, sai lệch, thiếu cơ sở lý luận và yếu về phương pháp. Do đó cần phải xây dựng một cơ sở dữ liệu đa ngành, đa cấp và luôn luôn được cập nhật; (2) Nghiên cứu về TD và SKTD ở Việt Nam còn rất hạn chế cả về các lĩnh vực và các chủ đề cũng như là về độ sâu của nghiên cứu. Các nghiên cứu hiện có thì mới chỉ đang ở giai đoạn đầu và còn đang mới chỉ tập trung vào các “vấn đề”, có nghĩa là các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào ý nghĩa  của SKSS và chứ chưa chú ý đến bản thân TD và SKTD, chưa nói đến mối quan hệ phức tạp giữa các lĩnh vực này với các quá trình văn hóa - xã hội khác.  Do đó nhu cầu nghiên cứu đặt ra không chỉ là tìm hiểu xem biến đổi xã hội tác động như thế nào đến TD và SKTD mà cả theo chiều ngược lại, vì sự thấu hiểu về một chiều cạnh sẽ giúp cho sự hiểu biết về chiều cạnh kia.

Quan trọng hơn, ở Việt Nam mối liên hệ giữa nghiên cứu và chính sách thường bị bỏ qua. Nghiên cứu thường được thực hiện vì bản thân nó mà không chú ý đến ý nghĩa của các kết quả đối với việc xây dựng chính sách.  Vì thế, một nhu cầu cấp bách được đặt ra là thực hiện các nghiên cứu sao cho kết quả của chúng được các cơ quan chính sách sử dụng cho việc xây dựng chính sách, đặc biệt là các nghiên cứu tổng hợp về các mối quan hệ của TD và SKTD bao gồm cả vấn đề thoả mãn cuộc sống và quyền có đời sống sống tình dục lành mạnh và quá trình phát triển ở Việt Nam.

Trung tâm Nghiên cứu Các vấn đề Phát triển Xã hội - CSDS (sau này đổi tên thành Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội  - ISDS - vào tháng 11 năm 2003) đứng đầu là hai tiến sĩ Khuất Thu Hồng và Lê Bạch Dương đã xây dựng một chương trình nhằm nâng cao năng lực trong nghiên cứu về tình dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam để trình lên cho Quỹ Ford đề nghị tài trợ. Đề xuất này đã được Quỹ Ford phê duyệt và CSDS đã nhận được khoản tài trợ là 172,000 USD để triển khai chương trình trong 24 tháng, bắt đầu từ tháng 8 năm 2002 đến tháng 7 năm 2004. Sau này dự án được kéo dài đến năm 2006.

Mục tiêu của chương trình

Mục tiêu tổng thể của chương trình là nâng cao nănglực nghiên cứu về TD và SKTD ở Việt Nam thông qua: (1) thành lập một trung tâm tư liệu về TD và SKTD; (2) thực hiện nghiên cứu đa ngành về TD và SKTD nhằm cung cấp thông tin cho việc xây dựng chính sách và vạch ra các hướng nghiên cứu trong tương lai; và (3) sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của các chuyên gia quốc tế. Cơ quan thực hiện sẽ là Trung tâm Nghiên cứu Các Vấn đề Phát triển Xã hội (xem phần V của đề cương này).    

Kết quả của Dự án

Trong chu trình của dự án, CSDS sau này là ISDS đã thực hiện thành công những hoạt động và tạo ra các sản phẩm sau:

 

  • Thành lập trung tâm tư liệu đầu tiên ở Việt Nam về Giới, Tình dục và Sức khỏe tình dục tại ISDS.  Hoạt động của trung tâm bao gồm: (i) thư viện với gần 4000 đầu sách, báo cáo, tài liệu và các ấn phẩm về các chủ để trên; (ii) cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan qua website (iii) tổ chức loạt seminar theo chủ đề Giới, Tình dục và Xã hội.
  • Thực hiện cuộc đánh giá hiện trạng và nghiên cứu định tính về tình dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam tại 4 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Số liệu của hai cuộc nghiên cứu đã đượcsử dụng làm cơ sở xây dựng các chiến lược và chương trình nghiên cứu, đào tạo và tuyên truyền về giới, tình dục và sức khỏe tình dục của ISDS trong những năm tiếp theo. Đặc biệt, số liệu của hai cuộc nghiên cứu đã được tập thể cán bộ nghiên cứu của ISDS đứng đầu là tiến sĩ Khuất Thu Hồng sử dụng cho nghiên cứu về kiến tạo xã hội của tình dục ở Việt Nam sau đó được xuất bản thành sách nhan đề: Chuyện dễ đùa, khó nói – Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại vào năm 2009. Một phần của số liệu nói trên cũng được sử dụng để xây dựng luận án Thạc sĩ của một cán bộ trong viện, bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh về giáo dục tình dục trong gia đình tại trường Đại học London về Vệ sinh và Y học Nhiệt đới năm 2005.   
  • Báo cáo về khung chính sách và pháp luật liên quan đến tình dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam.
  • Thu thập và phân tích các tài liệu sẵn có báo chí trong nước viết về tình dục và sức khỏe tình dục.  Một tổng quan tài liệu về chủ đề này đã được thực hiện trước khi triển khai nghiên cứu, nhưng trong thời gian dự án được kéo dài, nhóm nghiên cứu đã quyết định tìm hiểu sâu hơn vấn đề bằng cách phân tích cách báo chí trong nước viết về chủ đề nhằm xem xét những thay đổi về quan niệm sở thích và cách thể hiện các chủ đề TD và SKTD trên báo chí như sự phản ánh của những thay đổi xã hội đang diễn ra ở Việt Nam.  Phân tích báo chí đã đưa lại sự hiểu biết sâu sắc về các chủ đề này ở Việt Nam và được sử dụng trong cuốn sách nói trên. 
  • Tổ chức chương trình đào tạo nội bộ nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ của ISDS về: (i) khoa học xã hội, cụ thể là xã hội học; (ii) phương pháp nghiên cứu xã hội; (iii) các chủ đề chiến lược của Viện (giới, tình dục, sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS).  Giảng viên bao gồm các nghiên cứu viên cao cấp của ISDS và các chuyên gia.
  • Lựa chọn và dịch một số công trình nghiên cứu mang tính học thuật cơ bản về giới, tình dục và sức khỏe tình dục từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Các tài liệu này phục vụ cho chương trình đào tạo đồng thời được sử dụng để phục vụ bạn đọc của thư viện.

 

10

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong chu trình của dự án, CSDS sau này là ISDS đã thực hiện thành công những hoạt động và tạo ra các sản phẩm sau:

 

 

 

§         Thành lập trung tâm tư liệu đầu tiên ở Việt Nam về Giới, Tình dục và Sức khỏe tình dục tại ISDS.  Hoạt động của trung tâm bao gồm: (i) thư viện với gần 4000 đầu sách, báo cáo, tài liệu và các ấn phẩm về các chủ để trên; (ii) cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan qua website (iii) tổ chức loạt seminar theo chủ đề Giới, Tình dục và Xã hội.

 

 

 

§         Thực hiện cuộc đánh giá hiện trạng và nghiên cứu định tính về tình dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam tại 4 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Số liệu của hai cuộc nghiên cứu đã đượcsử dụng làm cơ sở xây dựng các chiến lược và chương trình nghiên cứu, đào tạo và tuyên truyền về giới, tình dục và sức khỏe tình dục của ISDS trong những năm tiếp theo. Đặc biệt, số liệu của hai cuộc nghiên cứu đã được tập thể cán bộ nghiên cứu của ISDS đứng đầu là tiến sĩ Khuất Thu Hồng sử dụng cho nghiên cứu về kiến tạo xã hội của tình dục ở Việt Nam sau đó được xuất bản thành sách nhan đề: Chuyện dễ đùa, khó nói – Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại vào năm 2009. Một phần của số liệu nói trên cũng được sử dụng để xây dựng luận án Thạc sĩ của một cán bộ trong viện, bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh về giáo dục tình dục trong gia đình tại trường Đại học London về Vệ sinh và Y học Nhiệt đới năm 2005.   

 

 

 

§         Báo cáo về khung chính sách và pháp luật liên quan đến tình dục và sức khỏe tình dục ở Việt Nam.

 

 

 

 

 

§         Thu thập và phân tích các tài liệu sẵn có báo chí trong nước viết về tình dục và sức khỏe tình dục.  Một tổng quan tài liệu về chủ đề này đã được thực hiện trước khi triển khai nghiên cứu, nhưng trong thời gian dự án được kéo dài, nhóm nghiên cứu đã quyết định tìm hiểu sâu hơn vấn đề bằng cách phân tích cách báo chí trong nước viết về chủ đề nhằm xem xét những thay đổi về quan niệm sở thích và cách thể hiện các chủ đề TD và SKTD trên báo chí như sự phản ánh của những thay đổi xã hội đang diễn ra ở Việt Nam.  Phân tích báo chí đã đưa lại sự hiểu biết sâu sắc về các chủ đề này ở Việt Nam và được sử dụng trong cuốn sách nói trên.

 

 

 

 

 

§         Tổ chức chương trình đào tạo nội bộ nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ của ISDS về: (i) khoa học xã hội, cụ thể là xã hội học; (ii) phương pháp nghiên cứu xã hội; (iii) các chủ đề chiến lược của Viện (giới, tình dục, sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS).  Giảng viên bao gồm các nghiên cứu viên cao cấp của ISDS và các chuyên gia.

 

 

 

Lựa chọn và dịch một số công trình nghiên cứu mang tính học thuật cơ bản về giới, tình dục và sức khỏe tình dục từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Các tài liệu này phục vụ cho chương trình đào tạo đồng thời được sử dụng để phục vụ bạn đọc của thư viện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 
link download game warcraft III, download game de che age of empires ban aoe link down nhanh, converter flv bang flv to avi mpeg wmv 3gp mp4 ipod converter video,tai flv media player nghe nhac video flv, download 2900 driver may in canon lbp driver canon lbp 2900 player link tai, kmplayer moi nhat, tai flash download flash player down, tai, download ccleaner don dep he thong, link tai download vlc xem bong da vlc, download winrar 32 bit giai nen 32 bit file winrar , choi game can download game neu ranh thi tim tai , ebook cac the loai ebook down, driver may tinh driver laptop