1
Bạn cần hỗ trợ?

Pháp luật lao động từ góc độ “lương tri của xã hội”

(TBKTSG) – LTS: Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang được đưa ra thảo luận tại Quốc hội. TBKTSG xin giới thiệu bài viết của Tiến sĩ luật Trần Kiên trong đó tác giả nêu ra quan điểm mới về định hướng xây dựng bộ luật này trong bối cảnh đã có những sự thay đổi nhận thức về kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân so với thời bao cấp.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên xem xét lại nền tảng tư duy làm cơ sở cho việc xây dựng pháp luật lao động. Ảnh minh họa Thành Hoa

Luật là lương tri của xã hội (The Law is the public consience), đấy là một cách dịch nhận định của Thomas Hobbes trong luận thuyết nổi tiếng Leviathan của ông. Với sự phát triển của nhân loại, nhận định trên đã trở thành tư tưởng giúp cho các nhà làm luật suy tư, tìm cách hài hòa hóa các lợi ích xung đột nhau giữa cá nhân, cộng đồng và nhà nước trong một xã hội thông qua pháp luật, qua đó góp phần vào việc xây dựng một đất nước phát triển, tự do và bền vững.

Làm luật, trong bối cảnh này chính là việc xây dựng chính sách có khả năng hài hòa các lợi ích xung đột nhau một cách khoa học, cũng như diễn dịch chính sách đó thành các quy tắc pháp lý dễ hiểu, ổn định, có thể dự đoán được, có thể tiếp cận được và có thể thực thi được.

Tiếp cận từ góc độ này đối với dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang được đưa ra thảo luận tại Quốc hội, chúng ta có thể nhận thấy dự thảo này không dựa trên một cơ sở chính sách rõ ràng, phù hợp, nếu không muốn nói là lạc hậu, tập trung chủ yếu ở tư duy: pháp luật lao động phải bảo vệ tối đa người lao động bằng cách kiểm soát chặt chẽ người sử dụng lao động.

Chính sách quan hệ lao động

Có lẽ vẫn phải nhắc lại một điều rằng, sau mấy chục năm đổi mới, quan điểm bảo vệ người lao động bằng cách kiểm soát chặt chẽ người sử dụng lao động trong quan hệ lao động thông qua pháp luật hiện còn khá nặng. Luật Lao động, trong bối cảnh này, thường nghiêng về hướng để kiểm soát người sử dụng lao động hơn là để thúc đẩy việc phát triển quan hệ lao động hài hòa.

“Để bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động, đề cao trách nhiệm của người sử dụng, thuê mướn lao động và người lao động “là lời nói đầu của Pháp lệnh Hợp đồng lao động năm 1990.

Tư duy này có thể hiểu được ở thời gian đầu đổi mới, khi sự “dè chừng” với kinh tế tư nhân vẫn còn mạnh. Tuy nhiên, quan điểm này lại dường như không được phản biện và điều chỉnh kịp thời khi vai trò của kinh tế tư nhân và hợp đồng lao động trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước và nhất là khi các quan hệ kinh tế, lao động mới phát sinh do sự thay đổi của công nghệ, thương mại trong nước và quốc tế.

Mục tiêu “tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định”, dù đã được đưa vào luật từ năm 2002, nhưng vẫn chưa thoát khỏi “nỗi lo” sợ người lao động bị người sử dụng lao động bóc lột, lợi dụng. Và quan trọng hơn, sự “hài hòa” đó chưa được thể chế hóa phù hợp thành quyền và nghĩa vụ của các bên trong pháp luật lao động.

Hệ quả

Chính sách nào pháp luật đó nhưng pháp luật nào chưa chắc thực tiễn đó như mong đợi. Pháp luật lao động lại một lần nữa thể hiện rõ tình trạng này.

Đầu tiên, về mặt lập pháp. Việc thiết kế, xây dựng các quy định vẫn còn thiên lệch với mục tiêu rất rõ là để bảo vệ người lao động. Tư duy này thể hiện trên mấy khía cạnh chính sau:

Thứ nhất, đó là sự can thiệp quá mức của Nhà nước vào quan hệ lao động. Hợp đồng lao động bị kiểm soát chặt chẽ từ khâu ký kết, thử việc, thực hiện, tranh chấp, chấm dứt với đủ loại điều kiện và thủ tục mà chủ yếu người sử dụng lao động phải tuân thủ.

Thứ hai, các quy định được thiết kế theo hướng người sử dụng lao động chỉ được làm những gì luật cho phép, kể cả khi nó được định danh là quyền của họ. Quyền của người sử dụng lao động bị bó hẹp trong khuôn khổ dựng sẵn. Các rào cản này còn được vây bọc bởi các quy định cứng nhắc ấn định luôn các vấn đề như cách thức tuyển dụng, thời gian thử việc, loại hợp đồng lao động, thời hạn hợp đồng… Quyền của người sử dụng lao động bị biến thành nghĩa vụ phải lựa chọn một trong cách ứng xử được định sẵn từ trước.

Thứ ba, không có gì ngạc nhiên khi chúng ta chứng kiến một dự thảo Bộ luật Lao động còn ôm đồm: từ chức năng, cho đến chế định, mục tiêu và cơ chế điều chỉnh và thực thi. Để mô tả sự ôm đồm này chúng ta có thể viện dẫn nhận định của chính Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong báo cáo Quan hệ lao động 2017 khi nói về nguyên nhân của những tồn tại: “Bộ luật Lao động vô hình trung trở thành luật gốc”.

Hệ quả thứ hai liên quan đến chính thực tiễn áp dụng. Những tưởng với các quy định bảo vệ tối đa người lao động và quản chặt chẽ người sử dụng lao động như vậy, pháp luật lao động ít ra là sẽ là tấm khiên vững chắc cho người lao động, nhưng thực tế áp dụng lại có vẻ khác xa với những gì nhà lập pháp mong đợi.

Thứ nhất, chỉ có một số ít quy định được áp dụng thường xuyên nhưng với số lượng không cao. Thống kê đến ngày 1-1-2017 cho thấy có 22,9 triệu người lao động nhưng chỉ có 8 triệu người đóng bảo hiểm xã hội và 6,7262 triệu người tham gia công đoàn.

Vậy là chưa vượt quá được 50%. Nếu nhìn kỹ hơn thì chúng ta còn có thể dự đoán con số này sẽ có khả năng nhỏ hơn do không rõ báo cáo này đã tính trong đó hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể và cá nhân kinh doanh có sử dụng lao động với số lượng gần 8,6 triệu người vào năm 2017 hay chưa.

Thứ hai, có các quy định hoàn toàn không được áp dụng. Điển hình là giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động. Dù cả nước đã có đủ 63 hội đồng nhưng chưa có một vụ việc nào được giải quyết.

Và thứ ba, có những quy định không biết áp dụng như thế nào. Ví dụ như việc áp dụng pháp luật lao động điều chỉnh các quan hệ lao động mới như quan hệ giữa tài xế và các hãng gọi xe công nghệ.

Từ góc độ người sử dụng lao động, việc họ lảng tránh các quy định pháp luật này là điều dễ hiểu. Ai lại muốn tuân thủ các quy tắc đặt ra nhằm bó buộc và kiểm soát chính người đó để phục vụ cho lợi ích của người khác cơ chứ. Chưa kể đến việc sự tuân thủ đó đi kèm với một chi phí không nhỏ và hàng loạt thủ tục phiền hà.

Từ góc độ của người lao động, việc họ không mặn mà với các quy định pháp luật lao động cũng dễ hiểu khi mà cung lao động luôn vượt quá cầu và thực tế từ các vụ đình công tự phát cũng cho thấy các quy định của luật chưa chắc đã được xây dựng phù hợp để bảo vệ người lao động.

Pháp luật lao động vì dân sinh, dân quyền

Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên xem xét lại nền tảng tư duy làm cơ sở cho việc xây dựng pháp luật lao động. Thực tế, gần đây đã có những chuyển động cho thấy việc thay đổi nhận thức về kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân, quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ phù hợp với cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quan hệ thương mại quốc tế mới; về an sinh, bảo hiểm xã hội.

Trong bối cảnh đó, ý tưởng về luật như là lương tri của cộng đồng nên là một sự gợi ý cho các nhà làm luật về việc thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, hài hòa lợi ích của các chủ thể xung đột nhau, dựa trên những quan điểm nền tảng sau: (i) quyền của ai cũng đáng được bảo vệ; (ii) hỗ trợ bên yếu thế nhưng đừng áp đặt gánh nặng bất chính lên vai bên có lợi thế; (iii) có thể hỗ trợ bằng các cơ chế an sinh xã hội nhưng đừng tiêu tốn nguồn lực quá mức dẫn đến tước đoạt cơ hội của người khác hoặc thế hệ đi sau; (iv) lấy mục tiêu phát triển, thịnh vượng làm đầu.

Từ đó, nhà làm luật nên quay về xây dựng các quy định cho pháp luật lao động dựa trên các nhận thức và giá trị khoa học pháp lý cơ bản, như: (i) quan hệ lao động là quan hệ tự nguyện, được xây dựng trên cơ sở hợp đồng với nền tảng tự do ý chí; (ii) Nhà nước không nên can thiệp quá sâu và rộng vào quan hệ này. Nếu muốn, Nhà nước chỉ nên quy định những điều các bên không được làm; (iii) khiêm tốn về mặt mục tiêu, chức năng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động; (iv) mạnh dạn bãi bỏ các quy định nhiêu khê, phức tạp về thông báo, báo cáo, gửi, đăng ký với tư cách là các thủ tục hành chính hiện nay; (v) đặt pháp luật lao động trong mối liên hệ tổng thể với các quy định pháp luật khác có liên quan để có thể xây dựng một cơ chế giải thích và thực thi tốt nhất.

Khi được hỏi ý kiến về dự thảo Bộ luật Lao động mới, đã có doanh nhân nói rằng: doanh nghiệp chỉ mong được bình đẳng với người lao động. Tôi tin đây là sự bộc bạch chân thành và chính đáng đến từ những người đang mạo hiểm tất cả nguồn lực của mình để làm giàu cho bản thân, xã hội và kiến tạo cơ hội cho những người khác. Bởi xét đến cùng, đất nước có giàu được hay không là nhờ vào những thương gia dũng cảm đó.

Tiến sĩ luật Trần Kiên

(*) Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Xem bài gốc tại đây: http://bit.ly/36zPPtH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ISDS